Cần cài đặt Flash Player để xem

Cần cài đặt Flash Player để xem

 

 

Cần cài đặt Flash Player để xem

Cần cài đặt Flash Player để xem

 

(13/09/2011 11:29:05)


1. Các sự kiện về biến đổi khí hậu

•    Việt Nam ký Công ước khung Liên Hợp Quốc về biến đổi khí hậu ngày 11- 6-1992 và phê chuẩn ngày 16-11-1994. Việt Nam ký Nghị định thư Kyoto ngày 03-12-1998 và phê chuẩn ngày 25-9-2002.

•    Với sự hỗ trợ của Liên Hợp Quốc (LHQ) và các đối tác khác, Bộ Tài nguyên và Môi trường Việt Nam (TN&MT) đã áp dụng các kịch bản biến đổi khí hậu toàn cầu theo tình hình thực tế ở Việt Nam. Các kịch bản toàn cầu do Đánh giá lần thứ tư của Uỷ ban Liên chính phủ về biến đổi khí hậu (IPCC 2007) xây dựng, là các kịch bản về kinh tế-xã hội khác nhau liên quan đến các mức phát thải khí nhà kính trong tương lai, cũng như mức độ nghiêm trọng của biến đổi khí hậu (BĐKH).

•    Bộ TN&MT đã chọn 3 trong số 6 kịch bản sử dụng cho Việt Nam. Trong đó, Chính phủ đã đồng ý dùng kịch bản B2 - các mức phát thải trung bình làm cơ sở để dự báo và quy hoạch về BĐKH. 

•    Theo kịch bản B2, đến 2100, nhiệt độ trung bình năm ở Việt Nam tăng khoảng 2,3oC so với các thập kỷ trước ở thế kỷ 201 . Mức tăng nhiệt độ sẽ giảm mạnh ở các vùng Bắc Bộ. Tuy nhiên, số liệu khoa học gần đây cho rằng, thế giới vẫn tiếp tục phát thải ở các mức cao, và theo kịch bản A2 - các mức phát thải cao, thì nhiệt độ trung bình năm ở vùng ven biển Bắc Trung Bộ, có thể lên tới 3,6oC.

•    Biến đổi khí hậu sẽ tăng tổng lượng mưa hàng năm ở các vùng trong cả nước. Theo kịch bản A2, lượng mưa ước tính trung bình tăng 6,6% ở thế kỷ 21. Theo kịch bản này, vùng Đồng bằng Sông Hồng sẽ có lượng mưa trung bình tăng tới 10% đặc biệt là vào các tháng mưa nhiều (các tháng 6-11). Ngược lại, các vùng Nam Bộ bao gồm Đồng bằng Sông Cửu Long, lượng mưa trung bình sẽ giảm khoảng 20% trong các tháng mùa khô (các tháng 12- 5).

•    Giảm lượng mưa trong các tháng mùa khô, kết hợp với nhiệt độ cao, sẽ tăng rủi ro hạn hán ở các vùng Nam Bộ. Với lượng mưa tăng trong tháng 6 đến tháng 11 thì rủi ro ngập lụt là rất cao, nhất là các vùng Bắc Bộ,  bao gồm các thành phố như Hà Nội (từng bị ngập lụt do lượng mưa trái mùa và cực đoan tháng 11- 2008), cũng như tăng rủi ro sạt lở đất ở các vùng miền núi. Lũ lụt sông có thể sẽ lớn hơn. Do phá rừng ở thượng nguồn,  lũ lụt ở Sông Cửu Long trở nên tồi tệ hơn. Ví dụ, các trận lũ sông có sức tàn phá mạnh ở Đồng bằng Sông Cửu Long vào năm 2000 và 2001- 481 người chết năm 2000 và 393 người chết năm 2001 – đa số là trẻ em. Khoảng 900.000 nhà cửa bị phá huỷ năm 2000 và 350.000 năm 2001.

•    Mực nước biển dâng chắc chắn ảnh hưởng nặng nề đến Đồng bằng Sông Cửu Long và T.p Hồ Chí Minh, một số khu vực Đồng bằng Sông Hồng và dải ven biển quan trọng, kể cả các vùng cửa sông nhỏ. Vào 2100, mực nước biển dâng cao nhất theo kịch bản dự báo (A1F1) của IPCC là 59cm, do quá trình nở nhiệt khi nước biển ấm lên. Dự báo chính thức của Việt Nam là 75cm, trên cơ sở ‘thu nhỏ tỷ lệ’ các mô hình của IPCC xuống mức cục bộ (kịch bản B2- các mức phát thải trung bình) và tính toán băng tan chảy trên đất liền ở mức nào đó. Năm 2007, IPCC không nhất trí với băng tan chảy trên đất liền, nhưng từ đó, các bằng chứng mới chứng minh băng tan chảy trên đất liền góp phần đáng kể, làm cho nước biển dâng ở thế kỷ 21.

•    Số liệu quy hoạch cụ thể của Việt Nam là mực nước biển dâng cao 1 mét vào năm 2100, nhất quán với các dự báo theo kịch bản A2 (và có tính các mức băng tan chảy trên đất liền). Số liệu này được dùng trong Chương trình mục tiêu quốc gia ứng phó với biến đổi khí hậu, được Thủ tướng phê duyệt tháng 12- 2008. Thực vậy, mực nước biển dâng cao 1m vào 2100 và nhiều khả năng dâng tới 1,4 – 1,5m theo số liệu đã công bố trong Đánh giá lần thứ tư của IPCC 2007. Nếu không gia cố đê kè, thì mực nước biển dâng cao 1 m dọc bờ biển VN sẽ gây ngập nghiêm trọng, ước tính có tới 30.945 km2 hay 9,3% tổng diện tích đất cả nước (rộng bằng nước Bỉ) sẽ bị ngập lụt. 

•    Đồng bằng Sông Cửu Long, Thành phố Hồ Chí Minh mở rộng, Đồng bằng Sông Hồng và dọc theo toàn bộ các khu vực ven biển khác sẽ bị đe doạ ngập úng nghiêm trọng nhất.2

•    T.p Hồ Chí Minh có 473 km2 hay 23% diện tích đất bị ảnh hưởng, kể cả diện tích đất dọc Sông Sài Gòn / Nhà Bè (màu đỏ dưới).

•    Một công trình nghiên cứu so sánh 84 nước đang phát triển bị ảnh hưởng của mực nước biển dâng cho thấy, hậu quả của mực nước biển dâng cao 1 m là 10,8% dân số Việt Nam sẽ bị ảnh hưởng –  tỷ lệ cao nhất trong số các nước này (nghĩa là 9,3 triệu người trong tổng dân số 85,8 triệu người) 3.

•    IPCC (2007) đã xác định, Đồng bằng Sông Cửu Long là một trong 3 điểm nóng ‘cực đoan’ toàn cầu về khả năng di dời dân do mực nước biển dâng. Vào năm 2050, có tới 1 triệu dân ở đây sẽ gặp rủi ro, phải di dời.

Tính dễ tổn thương tương đối của các đồng bằng ven biển được biểu thị bằng số dân có khả năng phải di dời do các xu thế mực nước biển dâng từ nay đến năm 2050 (Cực trị = >1 triệu; Cao = 1 triệu đến 50.000; Trung bình = 50.000 đến 5.000)4 .

•    Việt Nam xếp thứ 6 trong số các nước trên thế giới có tỷ lệ dân số cao sống ở các vùng đất thấp ven biển5.  Ngập lụt có thể đẩy người dân dễ tổn thương di cư tạm thời hoặc vĩnh viễn, để tìm cuộc sống ổn định và an toàn hơn, gây ra tình trạng di dời tiềm tàng của hàng triệu người. Nhiều người nghèo sống ở dải ven biển sẽ bị ảnh hưởng bởi ngập lụt. Phụ nữ, trẻ em, người già đặc biệt dễ tổn thương trước ngập lụt. Các thành phố và các khu công nghiệp cũng sẽ bị ảnh hưởng. Người dân đô thị nghèo hơn, thường sống ở các khu vực có cơ sở hạ tầng thoát nước và chống ngập lụt chất lượng kém, trong khi đó các dịch vụ cực kỳ quan trọng như cấp nước sạch lại bị gián đoạn nghiêm trọng trong ngập lụt.

•    Không có hành động ở quy mô rộng, đất ở Đồng Bằng Sông Cửu Long và các nơi khác ở Việt Nam sẽ ngày càng bị nước mặn xâm thực. Vấn đề quan trọng là, mực nước biển dâng sẽ gia tăng xâm mặn vào các cửa sông. Điều này có nghĩa là, nước mặt để tưới bị ảnh hưởng và nước ngầm thì mặn hoá, đất trồng và cây trồng cũng sẽ bị ảnh hưởng.

•    UNDP6  ước tính: “Khu vực Đồng bằng Sông Cửu Long của Việt Nam, “vựa lúa của cả nước”, là vùng dân cư đông đúc, đóng góp một nửa lượng gạo của cả nước và thậm chí hơn một nửa thuỷ sản và sản phẩm trái cây. Đến 2030, mực nước biển dâng ở đồng bằng này – nơi có 4 triệu người sống trong đói nghèo –sẽ làm cho 45% diện tích đất của vùng này bị tổn thương trước mặn hoá cực đoan và thiệt hại cây trồng, với năng suất lúa giảm  9%. Các dự báo cho thấy, những kết quả đạt được về giảm đói nghèo của Việt Nam trong 15 năm qua cũng như tiến bộ vững chắc hướng tới các Mục tiêu Phát triển Thiên niên kỷ sẽ bị ảnh hưởng đáng kể”.

•    Việt Nam hiện là nước xuất khẩu gạo thứ hai thế giới. Việt Nam sản xuất 38,7 triệu tấn thóc năm 2008 và xuất khẩu 4,65 triệu tấn gạo. Hai nước Thái Lan và Việt Nam cộng lại, chiếm 50% tổng thương mại gạo thế giới7 . Đồng bằng Sông Cửu Long là khu vực chính sản xuất và xuất khẩu gạo của Việt Nam. Mực nước biển dâng cao, xâm mặn, nhiệt độ cao hơn và các trận hạn hán, kết hợp lại với nhau – tất cả do hậu quả của BĐKH – gây áp lực lên toàn bộ nền sản xuất nông nghiệp, thu nhập của nông dân, an ninh lương thực địa phương và quốc gia và xuất khẩu gạo và hệ quả là áp lực ngược lên giá lương thực toàn cầu.

•    Ngân hàng Phát triển Châu Á (ADB) ước tính, những ảnh hưởng của BĐKH có thể tàn phá nền sản xuất gạo và cà phê ở Việt Nam sớm nhất là năm 2020. Điều đó có nghĩa là, áp lực ngày càng tăng lên giá gạo trên thị trường thế giới, bởi vì Việt Nam là một trong những nước xuất khẩu gạo quan trọng nhất. Tuy nhiên, tổng khối lượng gạo thông thương trên toàn cầu so với lượng gạo được tiêu thụ là rất nhỏ và nhiều thị trường lương thực chủ lực trong nước được điều tiết. Điều đó có nghĩa là, cho dù giá thị trường thế giới có thể tăng, thì sự bất an ninh lương thực thực sự ở các nước khác phụ thuộc vào sản lượng địa phương và sự điều tiết các thị trường. Các nhà khoa học của Viện Nghiên cứu lúa quốc tế (IRRI) đồng ý là, những ảnh hưởng của mực nước biển dâng cao và xâm mặn có liên quan, có thể là trầm trọng. Một nhà khoa học của Viện IRRI cho rằng: “Với Việt Nam, quá phụ thuộc vào lúa trồng ở xung quanh các châu thổ sông đất thấp, thì các hệ luỵ của mực nước biển dâng cao quả thực là đáng ngại8 .

•    Mỗi năm, Việt Nam trung bình phải hứng chịu 6-8 trận bão. Ảnh hưởng của bão sẽ càng tồi tệ do BĐKH. Trong các năm “El Niño”9 , các trận bão có tần suất mau hơn, mạnh hơn, và đổ bộ trên phạm vi rộng hơn. Năm 2009 đánh dấu là năm có những mẫu hình thời thiết bất thường ở Châu Á, kể cả những trật lụt lớn. Vào giữa năm 2009, các dấu hiệu cho thấy, một giai đoạn El Niño ‘yếu’ đang phát triển, sẽ làm tồi tệ hơn sự kiện ấm lên toàn cầu với các nhiệt độ (nhất thời) cao hơn và hạn hán, cả lũ lụt và giông bão gây thiệt hại . Trong các năm1991-1992, El Niño gây ra nạn đói ở Nam phần Châu Phi và gây thiệt hại đến hàng tỷ đô la vào năm 1998 do không có nước cho cây trồng và cháy rừng, cũng như ngập lụt ở Châu Á và các nơi khác (năm 1998 là năm nóng nhất được ghi nhận trên toàn cầu).

•    Việt Nam có 5.000km đê sông và 3.000km đê biển cần mở rộng và gia cố. Hầu hết đường bờ biển dài hơn 3.200km của Việt Nam được hoặc cần được bảo vệ bằng rừng ngập mặn vì rừng ngập mặn giảm nhẹ ảnh hưởng của các trận bão. Ví dụ, cơn bão số 7 năm 2005 (bão Damrey) gây sóng bão cao 4m ở huyện Kiến Thụy và do các rừng ngập mặn được phục hồi nhiều, độ cao sóng đã giảm bớt 0,5m10 .

•    Xem xét một số tác động của BĐKH được mô hình hóa (tức là, không chỉ có mức nước biển dâng cao theo giả thuyết, mà còn có các hiệu ứng của BĐKH theo các kịch bản phát thải có khả năng xảy ra nhiều nhất), ADB11  dự báo đến năm 2100, những tổn thất tiềm tàng do BĐKH gây ra đối với Indonesia, Philippines, Thái Lan và Việt Nam có thể lên tới 230 tỷ $, hay 6,7% GDP năm (nếu không có hành động thích ứng). Mức tổn thất này cao hơn nhiều so với mức trung bình toàn cầu. Tất cả các nước này đều bị rủi ro trước mực nước biển dâng, nhiệt độ cao hơn, sản lượng nông nghiệp tụt giảm và các sự kiện khí hậu cực đoan ngày càng tăng.

•    Điều quan trọng cần lưu ý là, ‘BĐKH nguy hiểm’ không chỉ thay đổi về các giá trị trung bình (kết quả tính toán mô hình theo các kịch bản phát thải), mà còn biến đổi bất thường năm này qua năm khác, trở nên cực đoan – với các giá trị lớp ngoài (outliers) của sự kiện cực đoan, khác xa giá trị trung bình.

 
2. Liên Hợp Quốc hỗ trợ các hành động về BĐKH ở Việt Nam

•    Nâng cao năng lực của Đoàn Việt Nam tham dự các cuộc thương lượng của Công ước khung LHQ về BĐKH tại Copenhagen thông qua đào tạo, hội thảo chuyên đề và thảo luận, cũng như đối thoại chính sách cấp cao (UNDP, Chương trình Môi trường Liên Hợp Quốc (UNEP) và các tổ chức LHQ khác).

•    Nâng cao nhận thức thông qua đào tạo và thu hút sự tham gia của giới truyền thông ở Việt Nam (và nước ngoài) và đào tạo trẻ em Việt Nam tham dự một cuộc họp gây dư luận quốc tế ở Copenhagen ngay trước Hội nghị các Bên tham gia Công ước khung (COP15), cũng như hỗ trợ cho hội nghị thanh niên & BĐKH (UNICEF, UNESCO và UNDP).

•    UNDP giúp dự án chính sách biến đổi khí hậu với Bộ TN&MT cũng như Văn phòng Biến đổi Khí hậu của Bộ NN&PTNT. Dự án đang hỗ trợ công tác áp dụng các kịch bản phát thải toàn cầu cho các vùng khác nhau ở Việt Nam (‘thu nhỏ tỷ lệ các kịch bản BĐKH’), hỗ trợ Văn phòng Thường trực của Chương trình mục tiêu quốc gia ứng phó với biến đổi khí hậu và triển khai nhiều hợp phần khác nhau của Chương trình mục tiêu quốc gia, đặc biệt là xây dựng năng lực, nghiên cứu tính dễ tổn thương và thích ứng, quản trị thông tin và nâng cao nhận thức.

•    Từ lâu, UNDP đã hỗ trợ Việt Nam cải thiện công tác cảnh báo sớm thiên tai, tập hợp và lập báo cáo các dữ liệu thiệt hại và kết nối các dịch vụ dữ liệu khí tượng-thuỷ văn của Việt Nam và Ban Chỉ đạo Phòng chống lụt bão trung ương với giới truyền thông trong nước, nhằm làm cho thông tin có thể truy cập rộng rãi hơn. UNDP còn cung cấp hàng nghìn máy thu thanh cho ngư dân để họ có thể nhận được các thông tin cảnh báo thời tiết.

•    Làm việc với các tổ chức LHQ và Bộ NN&PTNT, UNDP đang triển khai một dự án mới về giảm nhẹ rủi ro thiên tai, hỗ trợ tăng cường thể chế.

•    LHQ đang tiến hành nghiên cứu các khả năng dễ bị tổn thương và các phương án lựa chọn thích ứng có cộng tác với một số đối tác quốc gia và quốc tế. Nghiên cứu bao gồm cả các hoạt động về sinh kế nông thôn vùng ven biển và các phạm trù giới của BĐKH và những biện pháp ứng phó với BĐKH. LHQ cũng đang nghiên cứu các vấn đề di dân và định cư trong các điều kiện BĐKH, quy hoạch không gian và đô thị hoá, cũng như các tác động của BĐKH đến công nhân và người nghèo ở Đồng bằng Sông Cửu Long.

•    UNDP, với các nguồn kinh phí của Cơ quan Phát triển quốc tế Hoa Kỳ (USAID), còn hỗ trợ việc tăng cường ‘các cụm dân cư’Đồng bằng Sông Cửu Long thí điểm việc sử dụng vải địa kỹ thuật, một dự án nhỏ hỗ trợ một chương trình lớn của Chính phủ có mục tiêu tập trung người dân định cư ở các khu đất tôn cao và cải thiện cơ hội sử dụng các dịch vụ cơ bản của người dân. Chương trình của Chính phủ tạo ra các khu định cư để di dời chỗ ở cao hơn các mức lũ để khi có sự cố lũ ngập không cần thiết phải sơ tán và có thể xây dựng trường học an toàn ở các khu vực cộng đồng nhỏ. Các cụm dân cư này ở các khu đất tôn cao dọc theo đê và đường sá và nói chung, có thể đi lại bằng đường nước như thuyền bè, một phương tiện giao thông quan trọng của người dân và chuyên chở hàng hoá ở Châu thổ Sông Cửu Long. Đây là chương trình xây dựng và di dời dân quy mô lớn, đã và đang di dời hàng trăm ngàn dân và đã có kế hoạch di dời đến triệu người. Nếu được thực hiện tốt (như đang thực hiện) thì việc định cư có thể tạo thuận lợi sử dụng các dịch vụ và đảm bảo vẫn đi lại giữa kênh rạch và ruộng đồng, để từ đó cải thiện nhà cửa vườn tược phân tán của các xã vùng xâu vùng xa mà không tổn thất về sinh kế. Dự án đã tăng tốc để ứng phó với các trận lũ trong các năm 2000 và 2001. LHQ cùng các đối tác quốc gia, có kế hoạch nghiên cứu các bài học từ dự án trong bối cảnh BĐKH.

•    Được sự hỗ trợ của Quỹ Môi trường toàn cầu (GEF), các dự án thích ứng dựa vào cộng đồng  đã đạt được thành công nhất định, như cải thiện quản lý đất đai, sử dụng các loại hạt giống chịu hạn hơn và có những thay đổi lịch nông vụ để giải quyết hoang mạc hoá và hạn hán. 

•    Với sự hỗ trợ của LHQ, các cơ sở hạ tầng quản lý nước thích hợp, quy mô nhỏ, nhà chống bão và trường học chống lũ, đã được xây dựng. Còn nhiều thứ cần phải làm để có được cơ sở hạ tầng ‘chịu được khí hậu’ và UNDP, cùng với ADB và UNEP, hiện đang xây dựng một dự án mới về lĩnh vực này.

•    Trong các điều kiện biến đổi khí hậu, lâm nghiệp nói chung được nhìn nhận như là một hành động giảm thiểu khí nhà kính. Hơn nữa, rừng ven biển (đặc biệt là rừng ngập mặn) có những lợi thế rõ ràng trong việc giảm nhẹ rủi ro thiên tai, cũng như duy trì nuôi trồng thuỷ sản và các sinh kế địa phương khác. LHQ đã bắt đầu một dự án UN-REDD (Cắt giảm phát thải từ phá rừng và suy thoái rừng) với Bộ NN&PTNT, do Na-Uy tài trợ, trong bối cảnh các cuộc thương lượng khí hậu toàn cầu được kỳ vọng đưa ra được nhưng thoả thuận và cơ chế tài trợ cho việc cắt giảm phát thải từ phá rừng và suy thoái rừng.

•    UNDP, Tổ chức Phát triển công nghiệp LHQ (UNIDO) và UNEP đang hỗ trợ một số dự án tập trung vào sản xuất công nghiệp và chiếu sáng công cộng hiệu suất năng lượng, đặc biệt bằng các nguồn kinh phí của GEF.
      

 

Nguồn: UNDP Viet Nam, 2009

 

Chú thích

-------------------------------------------------------------------------

 

 

1 Các dữ liệu về BĐKH và mực nước biển dâng lấy từ Bộ TN&MT (2009) Các kịch bản BĐKH, mực nước biển dâng cho Việt Nam, Bộ TN&MT, Hà Nội, tháng 6/2009. Báo cáo kiến nghị sử dụng kịch bản B2 và các ảnh hưởng do BĐKH, để sử dụng cho quy hoạch ở Việt Nam, nhưng có lẽ là quá thận trọng. Báo cáo này được công bố chính thức ngày 9-9-2009, sau khi được Chính phủ và Đảng chấp nhận.

 

2Sao của Bộ TN&MT (2009)

3 Dasgupta, Susmita, Benoit Laplante, Craig Meisner, David Wheeler, và Jianping Yan (2007) Ảnh hưởng của mực nước biển dâng đến các nước đang phát triển: Phân tích toàn diện, Báo cáo công tác nghiên cứu chính sách Ngân hàng thế giới số 4136, tháng 2 năm 2007  

4 Đây là hình 6.6 trong tài liệu “Các hệ thống ven biển và các khu vực nằm thấp, Biến đổi khí hậu 2007 Các tác động, thích ứng và tính dễ tổn thương, của Nicholls, R.J., P.P. Wong, V.R. Burkett, J.O. Codignotto, J.E. Hay, R.F. McLean, S. Ragoonaden và C.D. Woodroffe (2007). Báo cáo Đánh giá lần thứ 4, IPPC, Đóng góp của nhóm công tác II, M.L. Parry, O.F. Canziani, J.P. Palutikof, P.J. van der Linden và C.E. Hanson, biên tập, Cambridge University Press, Cambridge, UK, 315-356  

5 Hugo, G. (2008). Giảm thiểu, Phát triển và Môi trường, Loạt báo cáo nghiên cứu về di cư số 35 của Tổ chức di cư quốc tế (IOM), Geneve. Việt Nam xếp thứ 7 trong số các nước có số dân đô thị cao nhất sống ở các vùng ven biển kinh tế thấp (LECZ).  

6 UNDP (2007) Báo cáo Phát triển con người (2007-08) – Cuộc chiến chống BĐKH: Đoàn kết nhân loại trong một thế giới phân cách

7ADB (2009) Kinh tế học về BĐKH ở Đông Nam Á  

8 IRRI (2007) [ref.]

 

9 El Niño - hiện tượng dao động ở bán cầu Nam (ENSO) góp phần làm dao động khí hậu theo mùa. Nó là một hệ các mối tương tác giữa Thái Bình Dương xích đạo và phần khí quyển phía trên khu vực này. Các sự kiện El Niño và La Niña là các tình trạng trái ngược nhau của hệ thống ENSO: El Niño là khi Thái Bình Dương xích đạo ấm hơn giá trị trung bình và La Niña là khi Thái Bình Dương xích đạo mát hơn giá trị trung bình. Do các sự kiện ENSO có xu hướng diễn ra liên tục trong 1 năm và do các sự kiện này ảnh hưởng đến khí hậu một cách không thay đổi, cho nên các thông tin về ENSO được dùng để dự báo khí hậu. Tuỳ theo vùng và mùa, một số điều kiện khí hậu dễ có khả năng xảy ra trong các sự kiện El Niño hoặc La Niña hơn các thời kỳ khác. Có những ý kiến cho rằng, cường độ và tần suất của ENSO có thể bị ảnh hưởng bởi biến đổi khí hậu, nhưng không có được sự nhất trí.

 

10 [UNDP-VN & Oxfam]

11 ADB (2009) Kinh tế học về BĐKH

 






Cần cài đặt Flash Player để xem

» Tất cả

Cần cài đặt Flash Player để xem

» Tất cả

 

 

 

 

 
 
LIÊN HỆ VỚI CHÚNG TÔI

Gửi đi